Chăm sóc làm đẹp ô tô con

I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC BẢO DƯỠNG ĐỊNH KỲ

Trên thực tế, theo khuyến cáo từ nhà sản xuất xe hơi, khi xe xuất xưởng đưa vào vận hành một khoảng thời gian, hoặc tới số km nhất định thì xe phải được đưa đến trạm dịch vụ hãng xe, hoặc các cơ sở sửa chữa có uy tín để làm bảo dưỡng định kỳ. Bảo dưỡng định kỳ có tính chu kỳ lặp lại nhằm giúp xe của chúng ta vận hành an toàn, ổn định và đặc biệt là thời gian sử dụng xe dài hơn.

Bảo dưỡng định kỳ bao gồm các công việc: thay thế mới – vệ sinh – châm thêm hoặc bổ sung – kiểm tra hoặc hiệu chỉnh – chuẩn đoán hoặc cảnh báo bất thường ở các bộ phận thuộc phạm vi chiếc xe.

II. TẠI SAO PHẢI BẢO DƯỠNG XE ĐỊNH KỲ

Khi đưa xe vào sử dụng, xe tiếp xúc trực tiếp với điều kiện mặt đường khác nhau, môi trường khí hậu khác nhau. Mặt khác, khi xe vận hành, bản thân chiếc xe cũng bị hao mòn tự nhiên do cơ – lý – hoá gây ra. Đặc biệt là các chi tiết động cơ, chi tiết an toàn xe. Cho nên, với chế bảo dưỡng định kỳ thì xe của chúng ta được thay thế các loại dầu nhớt, phụ tùng để duy trì vận hành ổn định cho xe. Ngoài ra, khi làm bảo dưỡng định kỳ, xe của chúng ta sẽ được các kỹ thuật viên kiểm tra trực tiếp tổng thể tình trạng xe có dấu hiệu bất thường về mặt kỹ thuật hay không. Sau đây là một số dẫn chứng cho chúng ta thấy tầm quan trọng của việc bảo dưỡng định kỳ.

1. Nhớt động cơ bị biến chất và giảm dần các công dụng của nhớt theo thời gian hoạt động của máy. Thay nhớt mới định kỳ để duy trì độ nhờn bôi trơn giảm ma sát mài mòn các chi tiết cơ khí: Bạc lót cổ cốt máy, bạc lót đầu to thanh truyền, ổ đở trục cam, sên cam, ống dẫn hướng xú bắp, pít tông và bạc pít tông tì vào thành xy lanh…

2. Lọc gió máy lạnh bẩn làm giảm công suất làm lạnh, ảnh hưởng đến sức khoẻ của chúng ta trong quá trình sử dụng xe. Nhà sản xuất phụ tùng khuyến nghị khách hàng sử dụng xe nên thay lọc gió máy lạnh sau 01 năm / 10.000 km xe vận hành. Tuy nhiên, lọc gió có thể nhanh hoặc lâu bẩn còn tuỳ thuộc vào môi trường xe chúng ta thường xuyên đi lại. Thông thường, khi bảo dưỡng định kỳ thì cơ sở bảo trì có thổi bụi vệ sinh lọc gió cho xe khách hàng.

3. Kiểm tra phát hiện sớm các bất thường của phụ tùng. Các cơ cấu hệ thống treo xe, điều khiển lái, bộ phận truyền lực luôn bị giao động khi xe chạy, chúng bị hao mòn tự nhiên theo thời gian sử dụng. Do đó, có một số chi tiết cần được kiểm tra như cao su chịu lực, đầu rotuyn, chụp bụi láp, phuộc nhún cần phải được kiểm tra kết hợp với bảo trì xe.

5. Kiểm tra tổng quát các mối ghép bu long và các bất thường do tác động của điều kiện mặt

6. Cân áp suất lốp, cân bằng động và đảo vỏ xe theo định kỳ duy trì độ ổn định vận hành cho xe.

III. PHÂN LOẠI CẤP BẢO DƯỠNG ĐỊNH KỲ

Nhà sản xuất quy định xe chạy được bao nhiêu km/thời gian tương ứng thì người sử dụng xe cần phải đưa xe đến trạm dịch vụ sửa chữa để làm bảo dưỡng định kỳ cho xe. Thông thường, nhân viên tư vấn của trạm dịch vụ treo phiếu nhắc bảo dưỡng kết hợp gọi điện thoại nhắc nhở kỳ bảo dưỡng tiếp theo.

1. Ở mỗi cấp bảo dưỡng, nhà sản xuất quy định hạng mục công việc cần làm và phụ tùng thay thế cụ thể cho từng cấp bảo dưỡng. Nhân viên tư vấn dịch vụ sẽ tư vấn trực tiếp để khách hàng biết rõ.

2. Bảng check sheet bảo dưỡng định kỳ bao gồm các công việc cần thực hiện. Công việc này đòi hỏi, chỉ có các kỹ thuật viên ô tô đã qua đào tạo và có kỹ năng làm việc thực tế mới có khả năng thực thi.

IV. THÀNH PHẦN BẢO DƯỠNG ĐỊNH KỲ – THAY THẾ MỚI(trích dẫn một phần)

1. Nhớt máy: là danh mục được thay thế thường xuyên nhất trong tất cả các danh mục bảo dưỡng thay thế mới. Thay nhớt máy thường xuyên làm giảm ma sát đến mức tối thiểu giúp cho động cơ ổn định và kéo dài thời gian sử dụng. Chu kỳ thay nhớt ở cấp 5.000 km/10.000 km tuỳ thuộc vào cấp độ nhớt. Quý khách vui lòng tham khảo ở menu “thông tin” để có thêm thông tin về nhớt động cơ. Việc thay nhớt tại các trạm bảo trì sẽ được các nhân viên tư vấn đảm trách tư vấn rõ ràng tới khách hàng.

2. Lọc nhớt: là chi tiết phụ tùng được thay thường xuyên ở cấp 10.000 km, 20.000 km, 30.000 km, 40.000 km. Lọc nhớt có chức năng giử lại các chất bẩn do hệ thống bôi trơn thải ra, luôn giử cho nhớt sạch trách làm tắt mạch nhớt bôi trơn trong thân động cơ.

2.1. Lọc nhớt lõi sắt

2.2 Lọc nhớt lõi giấy

3. Lọc gió động cơ: có vai trò quan trọng đối với hệ thống nạp của động cơ, Lọc gió giử lại bụi bẩn không cho bụi đi vào buồng đốt ở kỳ nạp. Nếu bụi bẩn đi vào buồng đốt, bám vào thành xy lanh kết hợp với màng nhớt bôi trơn trên thành xy lanh tạo ra một loại cát xoáy, khi pít tông di chuyển lên xuống cát xoáy này chen vào khe hở ở giữa thành xy lanh và pít tông và sẽ làm cho lòng xy lanh và pít tông bị mòn nhanh chóng.

Thông thường lọc gió được thay ở cấp 40.000 km xe lưu hành hoặc thấp hơn 40.000 km nếu xe chạy trong môi trường có quá nhiều bụi bẩn, lưu ý, nếu lọc gió động cơ bẩn làm giảm công suất động cơ. Hãng DENSO khuyến nghị thay lọc gió động cơ sau 10.000 km xe vận hành.

4. Lọc gió hệ thống máy lạnh: giống như lọc gió động cơ, lọc gió máy lạnh ngăn không cho bụi bẩn đi vào đường cấp gió của hệ thống máy lạnh, giử cho dàn lạnh luôn sạch sẽ cung cấp không khí sạch cho người ngồi trên xe. Hơn thế nữa, trên các xe cao cấp lọc gió máy lạnh còn có thêm chức năng khử mùi hôi giúp cho người ngồi trên xe cảm thấy dễ chịu và thoải mái hơn.

Ở mỗi kỳ bảo dưỡng, kết hợp vệ sinh lọc gió động cơ và lọc gió điều hoà bằng cách thổi gió sạch vào lọc cho bụi bẩn tách ra khỏi tấm lọc bụi. Hãng DENSO khuyến nghị thay lọc gió máy lạnh sau mỗi 10.000 kim xe vận hành.

Thay mới lọc gió máy lạnh DENSO ở cấp bảo dưỡng 10.000 km / 1 năm

5. Lọc tinh nhiên liệu(lọc xăng, lọc dầu diesel): giống với lọc nhớt động cơ, lõi lọc nhiên liệu làm việc trong môi trường chất lỏng, lõi lọc giử lại các cặn bẩn, nhiên liệu sạch đi trong hệ thống ống dẫn tới các bộ phận như vào hệ thống như bơm dầu diesel, kim phun nhiên liệu vào buồng đốt.

Lọc bị bẩn làm giảm hiệu suất lọc, nhiên liệu lên không đủ làm giảm hiệu suất động cơ, động cơ khó khởi động, máy nổ không tròn tua, khó tăng tốc, hoặc dễ chết máy.

Lọc tinh nhiên liệu xăng thường được lắp đặt ở hai vị trí trên hệ thống cung cấp nhiên liệu, thứ nhất: lọc tinh được tích hợp chung với cụm bơm xăng, phao xăng lắp đặt trong thùng chứa xăng, thứ hai: lọc tinh đặt lắp đặt trên đường ống và thông thường nằm ở trong khoang động cơ, thỉnh thoảng lọc tinh được lắp đặt dưới gầm xe.

5.1.  Lọc xăng(lọc tinh) độc lập, kiểu lọc này thông thường được bố trí trong khoang động cơ.

5.2. Lọc xăng(lọc tinh) theo cụm cùng với bơm xăng, phao xăng và một số chi tiết phụ khác, kiểu lọc này thông thường được bố trí ở bên trong thùng chứa nhiên liệu.

5.3.  Lọc dầu Diesel(lọc tinh) độc lập nằm ở bên trong bầu chứa, kiểu lọc này thông thường được bố trí trong khoang động cơ.

V. THÀNH PHẦN BẢO DƯỠNG ĐỊNH KỲ – VỆ SINH(trích dẫn một phần)

1. Tới kỳ chỉ thay nhớt máy, hoặc thay nhớt máy và lọc nhớt, tại cơ sở bảo dưỡng, nhân viên kỹ thuật dùng máy thổi lọc gió thổi sạch bụi lọc gió động cơ và lọc gió máy lạnh để gia tăng hiệu suất lọc.

2. Cổ họng ga nằm sau bầu lọc gió, không khí sạch đi ngang qua cổ họng ga trước khi vào buồng đốt ở kỳ nạp. Theo thời gian(khoảng 40.000 km xe vận hành) ở cổ họng ga hình thành một màng bụi mõng tác động đến khe hở của bớm gia và cảm biến vị trí bớm ga.

Nhân viên kỹ thuật sử dụng dung dịch chuyên dùng vệ sinh cổ họng ga sạch sẽ để duy trì bộ phận này hoạt động ổn định theo thiết kế của nhà sản xuất – bớm ga đóng mở nhịp nhàng và duy trì số vòng quay ở chế độ không tải theo đúng thiết kế của nhà sản xuất.

3. Vệ sinh cụm phanh xe, khi phanh xe, bố thắng ma sát trực tiếp với dĩa thắng/tam pua

– Ma sát làm mài mòn bố thắng phát sinh bụi làm giảm hiệu suất phanh theo thời gian.

– Ma sát gây nhiệt làm cho cụng phanh nóng lên, theo thời gian, do tác động của nhiệt và bụi bố thắng thì mở môi trơn ắc thắngw bị khô(cụm thắng dĩa), cụm phanh tì bố thắng vào dĩa thắng dẫn đến hư hỏng cả hai chi tiết này.

Dùng dịch dịch xịt rửa bụi, màng dầu phanh(nếu có) bám vào bố thắng, dĩa thắng. Bôi trơn ắc thắng bằng mở chịu nhiệt

Kết hợp kiểm tra cụm phanh và hiệu chỉnh, Trong quá trình bảo dưỡng, nhân viên kỹ thuật kiểm tra chụp bụi ắc thắng, chụp bụi pít tông thắng có bị rách không, pít tông thắng có dấu hiệu bị gỉ sét, chụp bụi ắc thắng bị rách nước và bụi xâm nhập

4. Vệ sinh béc phun xăng, béc phun xăng là một thành phần của hệ thống phân phối nhiên liệu. Phía đầu phun tiếp xúc trực tiếp với buồng đốt, do đó, nếu hổn hợp khí cháy không trọn vẹn hoặc nhiên liệu không đúng tiêu chuẩn sẽ làm cho đầu phun bị bít làm thiếu nhiên liệu cho kỳ nổ của động cơ.

VI. THÀNH PHẦN BẢO DƯỠNG ĐỊNH KỲ – KIỂM TRA VÀ BỔ SUNG THÊM(trích dẫn một phần)

1. Kiểm tra và bảo dưỡng bình ắc quy, kiểm hai cọc bình có bị gỉ ten muối. Kiểm tra kẹp cọc ắc quy có chắc chắn, nếu lỏng phải siết chặc tránh tạo tia lửa gây cháy xe.

Nếu cọc bình bị hen gỉ muối cần được vệ sinh để cọc ắc quy và kẹp ắc quy tiếp xúc tốt

Kiểm tra hiệu điện thế của bình điện, dòng điện sạc từ máy phát có ổn định hay không để đưa ra biện pháp khắc phục, nếu không xe bị chết máy trên đường đi.

Tiến hành kiểm tra mực nước trong bình còn nằm ở mức cho phép không(ở trong vùng vạch upper và lower), nếu thiếu tiến hành châm thêm nước cất.

2. Kiểm tra vỏ xe kết hợp với kỳ bảo dưỡng để sớm phát hiện các bất thường đối với vỏ

– Kiểm tra vỏ xe có bị nứt ở phần hông, mặt tiếp xúc với mặt đường có bị mòn không đều.

– Kiểm tra chiều cao gai vỏ còn trong giới hạn cho phép.

3. Dầu phanh được hay mới ở kỳ bảo dưỡng cấp lớn. Bảo dưỡng ở cấp thấp chỉ cần châm thêm là được.

4.  Thay thế mới dầu trợ lực lái ở kỳ bảo dưỡng cấp lớn. Tuy nhiên, ở cấp bảo dưỡng nhỏ, và trung bình chỉ cần kiểm tra, nếu có hụt dầu chúng ta châm thêm là xong.

5. Kiểm tra và châm thêm nước rửa kính đảm bảo luôn đủ nước để bơm lên rửa kính chắn gió luôn cho lái xe tầm nhìn tốt nhất lái xe an toàn.

6. Kiểm tra và châm thêm nước làm mát động cơ, đảm bảo luôn đủ nước cho hệ thống làm mát

7. Kiểm tra tình trạng bugi để chuẩn đoán sức khoẻ của động

8. Kiểm tra lực căng dây curoa, dấu hiệu mòn bất thường

​​